Skip to main content

Giáo hoàng Alexanđê II – Wikipedia tiếng Việt



Alexanđê II (Latinh: Alexander II) là người kế nhiệm Giáo hoàng Nicholas II và là vị giáo hoàng thứ 156.

Theo niên giám tòa thánh năm 1861 thì ông đắc cử Giáo hoàng năm 1006 và ở ngôi Giáo hoàng trong 11 năm 6 tháng 21 ngày[1]. Niên giám tòa thánh năm 2003 xác định triều đại của ông kéo dài từ ngày 1 tháng 10 năm 1061 cho tới ngày 21 tháng 4 năm 1073.





Giáo hoàng Alexander II sinh tại Baggio, Milan, thuộc Lombarđi của đế quốc La Mã thần thánh vào khoảng năm 1010 hoặc 1015 với tên thật là Anselme de Lucques. Ông được đào tạo ở Cluny, bên cạnh Hildebrand. Ông bắt đầu sự nghiệp công khai bằng sự thuyết giảng.

Tại Lombarđi, ông tấn công những phong tục của hàng giáo sĩ, đặc biệt là sự kết hôn của các linh mục.

Tổng Giám mục Guido tức giận tố cáo ông với hoàng đế Henry III. Thay vì lên án ông, hoàng đế lại giao phó cho ông việc thuyết giảng tại Đức. Năm 1057, Anselmô lại được giao phó tòa Giám mục Lucques.

Sau đó ông được bổ nhiệm làm đặc sứ tông tòa ở Milan, lần đầu tiên năm 1057 cùng với Hildebrand và lần thứ hai vào năm 1059 cùng với Phêrô Đamianô.



Bầu cử[sửa | sửa mã nguồn]


Sau sắc lệnh của Giáo hoàng Nicolas II năm 1059, Giáo hoàng Alexander II đã được bầu theo cách thức mới, tức là được các hồng y Giám mục bầu lên. Mặc dù lúc đó ông không phải là hồng y. Một thông báo được gửi đến hoàng đế vì ông này không biết việc đó. Các hồng y xét rằng đặc quyền của hoàng đế đã bị bãi bỏ.

Anselme được đăng quang Giáo hoàng ngày 30 tháng 9. Nổi giận vì bị tước mất quyền bầu cử trước kia của mình, những người Rô ma kêu ca lên thái hậu Agnès, người nhiếp chính cho con trai còn trẻ của bà là Henricô IV. Hoàng đế Henry IV không thừa nhận cuộc đắc cử của ông và cho ông là phản Giáo hoàng (anti-pope).

Agnès đã triệp tập một hội nghị ở Balê. Hội nghị này tất cả các hồng y đều vắng mặt, đã bầu một Giáo hoàng khác lấy danh hiệu là Honorius II (28-10-1061 – 1072). Tình trạng này đã kích động gây ra nhiều cuộc nổi loạn đẫm máu, trong suốt thời gian đó quân Norman luôn đứng về phía Giáo hội.


Triều đại[sửa | sửa mã nguồn]


Ông lên án sự mạn thánh và lạc thuyết Niôla.

Ông cho phép cuộc hôn nhân của Mathilde de Flandres với Guillaume le Conquérant. Ông quan tâm đến tôn giáo hơn chính trị và không ngại can thiệp vào cải cách hàng giáo sĩ Pháp. Alexander II được coi là một vị Giáo hoàng cải cách.

Có sử gia cho rằng trước khi xuất quân đánh Anh quốc, quận công Guillaume le Conquérant xứ NorMan die đã đến xin phép đức Alexander II và được ngài trao kỳ hiệu thánh Phê-rô (năm 1006?) (G.de Plinval: Le drame Politique du moyen âge, le sacerdoce et lé princes trong: Histoire illustrée de l’Église, Paris 1946, Q.I, tr 343).

Năm 1083, ông biến la Reconquista thành thánh chiến, bằng việc ban một đại xá cho các binh sĩ tham gia vào việc đánh chiếm Barbastre, thành phố Aragon do quân Môritani nắm giữ.





  • 265 Đức Giáo hoàng, Thiên Hựu Nguyễn Thành Thống, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, xuất bản tháng 5 năm 2009.

  • Các vị Giáo hoàng của giáo hội toàn cầu, hội đồng Giám mục Việt Nam [1]

  • Tóm lược tiểu sử các Đức Giáo hoàng, Đà Nẵng 2003,Jos. TVT chuyển ngữ từ Tiếng Anh.


Comments

Popular posts from this blog

Eddie Albert - Wikipedia

Eddie Albert Albert năm 1975 Sinh Edward Albert Heimberger ( 1906-04-22 ) 22 tháng 4 năm 1906 Chết 26 tháng 5 năm 2005 (2005-05-26) (ở tuổi 99) Nơi an nghỉ Nghĩa trang Công viên Tưởng niệm Làng Westwood, Los Angeles, California Alma mater Đại học Minnesota Nghề nghiệp Diễn viên, ca sĩ, nhà nhân đạo, nhà hoạt động Năm hoạt động 1933 .1997 Minnesota Vợ / chồng Margo (m. [1945;cáichếtcủacôấy1985) Trẻ em Albert, Maria Albert Zucht Sự nghiệp quân sự Allegiance Hoa Kỳ Dịch vụ / chi nhánh Hoa Kỳ y Số năm phục vụ 1942 Mạnh45 Xếp hạng Trung úy Trận chiến / chiến tranh Trận chiến Tarawa ] Huy chương Sao đồng Edward Albert Heimberger (22 tháng 4 năm 1906 - 26 tháng 5 năm 2005), được biết đến một cách chuyên nghiệp là Eddie Albert là một diễn viên và nhà hoạt động người Mỹ. Ông đã được đề cử giải Oscar cho Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất năm 1954 cho vai diễn trong Roman Holiday và năm 1973 cho The Heartbreak Kid . [1] Các vai diễn nổi tiếng...

1345 - Tìm lời khuyên trang trí - Phụ nữ trong thiết kế

Sáng tạo chỉ phát triển mạnh mẽ hơn khi đối mặt với nghịch cảnh. Nền kinh tế có thể không ổn định và ngân sách của người bị hạn chế và dưới áp lực, nhưng phải đối mặt với trật tự thế giới mới này, tài năng nhất trang trí nội thất, kiến trúc sư, nhà thiết kế thời trang, và tastemakers điều chỉnh quan điểm của họ và mở rộng phạm vi của họ , ngay cả khi họ vẫn còn đúng với tầm nhìn cá nhân của họ. Thay vì cắt giảm các cảm hứng của họ, tìm kiếm chỉ đơn thuần là để đi xe ra khó khăn hiện nay, họ đang melding niềm đam mê và thực tiễn trong tất cả các dự án của họ, cho dù nó thiết kế một toàn bộ ngôi nhà, giám sát một dòng nội thất gia đình, hoặc tạo ra các đĩa đơn đối tượng cưỡng. tầm nhìn năm chúng tôi chào trong năm nay của phụ nữ tính năng thiết kế trang trí ELLE — Holly Hunt, Charlotte Moss, Josie Natori, Michelle Nussbaumer và Kelly Wearstler — exemplify cách tiếp cận này. Họ là phụ nữ với phong cách khác biệt, đã được chứng minh theo dõi hồ sơ và quyết tâm để giữ cho công việc của họ ...

Litz, Oise – Wikipedia tiếng Việt

Litz Litz Hành chính Quốc gia Pháp Vùng Hauts-de-France Tỉnh Oise Quận Quận Clermont Tổng Tổng Clermont Xã (thị) trưởng Jean-Jacques Degouy (2008–2014) Thống kê Độ cao 66–109 m (217–358 ft) (bình quân 74 m/243 ft) Diện tích đất 1 9,76 km 2 (3,77 sq mi) Nhân khẩu 2 325   (1999)  - Mật độ 33 /km 2 (85 /sq mi) INSEE/Mã bưu chính 60366/ 60510 1 Dữ liệu địa chính Pháp loại trừ các hồ và ao lớn hơn 1 km² (0.386 dặm vuông hoặc 247 acre) cũng như các cửa sông. 2 Dân số không tính hai lần : cư dân của nhiều xã (ví dụ, các sinh viên và quân nhân) chỉ tính một lần.