Skip to main content

Bộ chỉ huy Viện trợ Quân sự Mỹ tại Việt Nam – Wikipedia tiếng Việt


Bộ chỉ huy Viện trợ Quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam (tiếng Anh: The US Military Assistance Command, Vietnam), viết tắt là MACV, đọc theo âm tiếng Việt là Mắc-vi) là cơ quan chỉ huy quân sự thống nhất đối với các đơn vị quân sự của Mỹ tại miền Nam Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam.





Để trợ giúp quân viễn chinh Pháp trong cuộc chiến tranh Đông Dương chống lại những người Việt Minh, tháng 9 năm 1950, Tổng thống Mỹ Harry Truman đã cử một Phái bộ Cố vấn Quân sự (Military Assistance Advisory Group - MAAG) đến Việt Nam. Phái bộ này không thực hiện nhiệm vụ như là những quân nhân chiến đấu, mà là để giám sát việc sử dụng các trang thiết bị quân sự viện trợ của Mỹ trị giá 10 triệu dollar (thời giá năm 1950) để hỗ trợ của Pháp trong nỗ lực của họ để chống lại lực lượng Việt Minh.

Sau Hiệp định Geneve 1954, quân Pháp phải rút khỏi Việt Nam. Để giúp Ngô Đình Diệm xây dựng lực lượng và loại trừ ảnh hưởng của Pháp, trong cuộc họp tại Washington, DC ngày 12 tháng 2 năm 1955, chính phủ Mỹ đã quyết định các viện trợ quân sự của Mỹ sẽ chuyển trực tiếp cho chính phủ Ngô Đình Diệm và trách nhiệm quân sự lớn sẽ được chuyển giao từ người Pháp sang cho MAAG với sự chỉ huy của Trung tướng John O'Daniel. Sau những binh sĩ Pháp cuối cùng rút đi, cuối tháng 6 năm 1956, số cố vấn tại MAAG đã tăng lên đến 740 người. Phái bộ chia làm 3 nhóm ở mỗi quốc gia tại bán đảo Đông Dương là Việt Nam, Lào và Campuchia.

Trong cuộc đấu tranh với những người Cộng sản miền Nam, Ngô Đình Diệm, khi đấy đã là tổng thống, đã không chấp nhận cho phép các cố vấn Mỹ tham gia chỉ huy đến các đơn vị cấp chiến thuật. Ông lo ngại các cố vấn Mỹ sẽ dần dần kiểm soát hoặc tạo ảnh hưởng đến quân đội của ông ta. Tuy nhiên, đến năm 1961, khi các hoạt động quân sự của những người Cộng sản miền Nam trở nên mạnh mẽ hơn, Ngô Đình Diệm đã buộc phải chấp nhận sự gia tăng ảnh hưởng của người Mỹ lên chính quyền và quân đội của mình. Viện trợ quân sự của Mỹ tăng nhanh chóng từ 50 triệu dollar (1959) lên đến 144 triệu dollar (1961). Đồng thời, Ngô Đình Diệm phải đồng ý rất miễn cưỡng cho phép các cố vấn Mỹ được tham gia chỉ huy đến cấp tiểu đoàn. Điều này làm tăng đáng kể số lượng các cố vấn quân sự Mỹ trong các đơn vị quân đội của Ngô Đình Diệm, và đây cũng là một trong những lý do mà những người Cộng sản Việt Nam buộc tội chính quyền Diệm vi phạm nghiêm trọng các điều khoản của Hiệp định Geneve.



Tuy số lượng cố vấn tăng lên liên tục, nhưng Quân lực Việt Nam Cộng hòa vẫn rất vất vả trong việc ngăn chặn sự phát triển của những đội quân của những người Cộng sản miền Nam, mà không lâu sau đó đã tập hợp thành một đội quân chính quy, Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam, vào ngày 15 tháng 2 năm 1961. Vì vậy, Chính phủ Mỹ và Việt Nam Cộng hòa phải thành lập một cơ quan chỉ huy quân sự mới, với mục đích không chỉ làm công tác cố vấn huấn luyện cho quân đội Việt Nam Cộng hòa, mà còn đi xa hơn nữa là đưa quân đội Mỹ vào tham chiến tại Nam Việt Nam.

MACV được thành lập vào ngày 8 tháng 2 năm 1962, về danh nghĩa là cơ quan chỉ huy quân sự toàn bộ các lực lượng quân sự Mỹ tại Việt Nam, nhưng trên thực tế, có quyền hạn chỉ huy về mặt quân sự của toàn bộ các lực lượng quân sự của Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng hòa và các đồng minh tại Nam Việt Nam. Chính điều này đã làm tổng thống Ngô Đình Diệm rất khó chịu và đã tìm nhiều biện pháp để giảm sự ảnh hưởng của MACV đến quyền lực của ông, cũng như ngăn cản việc đưa quân đội Mỹ và đồng minh vào tham chiến tại Việt Nam. Đây cũng là một lý do dẫn đến cuộc đảo chính và cái chết của ông một năm rưỡi sau đó.

Ban đầu, MACV là một cơ quan độc lập với MAAG và cũng chỉ giới hạn trong việc đưa các cố vấn quân sự tham gia chỉ huy các đơn vị của Việt Nam Cộng hòa. Đến ngày 15 tháng 5 năm 1964, MAAG sát nhập với MACV để trở thành một cơ quan chỉ huy thống nhất và về viện trợ, cố vấn và chỉ huy quân sự cao nhất của Hoa Kỳ và đồng minh tại Nam Việt Nam.

Từ năm 1964 cho tới 1973, MACV trên thực tế là cơ quan có quyền lực nhất tại miền Nam Việt Nam, có nhiệm vụ chỉ huy mọi hoạt động quân sự của Mỹ và các đồng minh (Hàn Quốc, Úc, Thái Lan, Quân lực Việt Nam Cộng hòa). Ngay cả các tổng thống Việt Nam Cộng hòa nhiều khi cũng không được can dự vào các quyết định của MACV, và nếu muốn, MACV có thể ra lệnh lật đổ bất kỳ tổng thống Việt Nam Cộng hòa nào mà họ muốn phế truất, tương tự như các Toàn quyền Đông Dương của Pháp trong thời Pháp thuộc.

Sau 11 năm tồn tại, theo điều khoản của Hiệp định Paris, các lực lượng Mỹ và đồng minh phải triệt thoái trong vòng 60 ngày kể từ ngày ngừng bắn. Do đó, MACV cũng được giải tán vào ngày 29 tháng 3 năm 1973. Tuy giải tán trên danh nghĩa, nhưng trong thực tế, các cố vấn quân sự Mỹ vẫn hiện diện ở miền Nam Việt Nam để điều phối các hoạt động quân sự cho tới ngày 30/4/1975 dưới danh nghĩa Văn phòng Tùy viên Quân sự Mỹ (DAO).




























STT
Tên
Năm sinh - Năm mất
Cấp bậc
Nhiệm kỳ
Chức vụ cuối cùng
1
Paul D. Harkins
1904 – 1984
Đại tướng
tháng 2 năm 1962 - tháng 6 năm 1964
Chỉ huy trưởng MACV
2
William C. Westmoreland
1914 – 2005
Đại tướng
tháng 6 năm 1964 - tháng 7 năm 1968
Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ
3
Creighton Williams Abrams Jr.
1914 – 1974
Đại tướng
tháng 7 năm 1968 - tháng 6 năm 1972
Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ
4
Frederick C. Weyand
1916-
Đại tướng
tháng 6 năm 1972 - tháng 3 năm 1973
Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ

  • Bộ chỉ huy Lục quân (United States Army Vietnam - USARV)

  • Bộ tư lệnh Hải quân (Naval Forces Vietnam - NAVFORV)

  • Không lực 7 (Seventh Air Force - 7AF)

  • Lực lượng Thủy bộ số 3 (III Marine Amphibious Force - III MAF)

  • Lực lượng dã chiến số 1 (I Field Force, Vietnam - I FFV)

  • Lực lượng dã chiến số 2 (II Field Force, Vietnam - II FFV)

  • Quân đoàn 24 (XXIV Corps)

  • Lực lượng đặc biệt số 5 (5th Special Forces Group)

  • Cơ quan Điều phối Dân sự Vụ và Phát triển Nông thôn (Civil Operations and Rural Development Support - CORDS)

  • Nhóm nghiên cứu và quan sát (Studies and Observations Group - SOG)

Văn phòng Tùy viên Quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam, tên chính thức là Defense Attaché Office Saigon, thường được gọi tắt là DAO Saigon, được Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ, theo đề nghị của CINCPAC và MACV thành lập ngày 28 tháng 1 năm 1973[1]. Đây là một cơ quan thống nhất phụ trách các tuỳ viên quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam, đồng thời quản lý việc hiện diện của quân đội Mỹ tại Việt Nam sau khi ngừng bắn, bao gồm cả các chương trình viện trợ cho quân đội Việt Nam Cộng hòa, quản lý các hợp đồng mua sắm viện trợ Không lực Việt Nam Cộng hòa, quản lý các nhân viên Mỹ vẫn còn công tác tại Việt Nam sau khi ngừng bắn. Ngoài ra, cơ quan này còn chịu trách nhiệm thống kê và báo cáo về các vấn đề đang xảy ra, chẳng hạn như việc vi phạm ngưng bắn và các thông tin tình báo có liên quan đến lợi ích của Hoa Kỳ và Chương trình Cố vấn quân sự tại Đông Nam Á. Trụ sở của DAO được đặt trong Căn cứ Không quân Tân Sơn Nhứt cạnh trụ sở MACV. Ngoài ra, DAO cũng có các văn phòng đại diện ở Đà Nẵng, Pleiku, Qui Nhơn, Nha Trang, Biên Hòa, Long Bình, Nhà Bè, Đồng Tâm, Bình Thủy và Cần Thơ.





  1. ^ Le Gro, William (1985). Vietnam: Cease Fire To Capitulation. US Army Center of Military History CMH Pub 90-29. ISBN 978-1410225429. 



  • Stanton, Shelby, Vietnam Order of Battle, ISBN 0-89193-700-5

  • Sorley, Lewis, A Better War: The Unexamined Victories and Final Tragedy of America's Last Years in Vietnam, ISBN 0-15-601309-6

  • William C. Westmoreland, A Soldier Reports, Garden City, N.Y.: Doubleday, 1976.

Comments

Popular posts from this blog

Mame Biram Diouf – Wikipedia tiếng Việt

Mame Biram Diouf Thông tin cá nhân Tên đầy đủ Mame Biram Diouf [1] Ngày sinh 16 tháng 12, 1987 (30 tuổi) Nơi sinh Dakar, Sénégal Chiều cao 1,85 m (6 ft 1 in) [2] Vị trí Tiền đạo Thông tin về CLB CLB hiện nay Stoke City Số áo 18 CLB chuyên nghiệp* Năm Đội ST † (BT) † 2006–2007 Diaraf 2007–2009 Molde 62 (29) 2009–2012 MU 5 (1) 2009 → Molde (cho mượn) 12 (4) 2010–2011 → BR (cho mượn) 26 (3) 2012–2014 Hannover 96 57 (26) 2014– Stoke City 122 (23) Đội tuyển quốc gia ‡ 2009– Sénégal 51 (10) Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và cập nhật vào 13 tháng 5 năm 2018. † Số trận khoác áo (số bàn thắng). ‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật vào 24 tháng 6 năm 2018 Mame Biram Diouf sinh ngày 16/12/1987 tại Thủ đô Dakar của Senegal. Mame Biram Diouf khởi nghiệp trong màu áo Diaraf của Sénégal trong tháng 1 năm 2007. Tiền đạo trẻ này thi đấu cho đội bóng quê nhà 3 năm, sau đó gia nhập CLB Molde của Na Uy vào năm 2007 [3] . Tháng 8 năm 2008 anh có liên hệ với Br...

Eddie Albert - Wikipedia

Eddie Albert Albert năm 1975 Sinh Edward Albert Heimberger ( 1906-04-22 ) 22 tháng 4 năm 1906 Chết 26 tháng 5 năm 2005 (2005-05-26) (ở tuổi 99) Nơi an nghỉ Nghĩa trang Công viên Tưởng niệm Làng Westwood, Los Angeles, California Alma mater Đại học Minnesota Nghề nghiệp Diễn viên, ca sĩ, nhà nhân đạo, nhà hoạt động Năm hoạt động 1933 .1997 Minnesota Vợ / chồng Margo (m. [1945;cáichếtcủacôấy1985) Trẻ em Albert, Maria Albert Zucht Sự nghiệp quân sự Allegiance Hoa Kỳ Dịch vụ / chi nhánh Hoa Kỳ y Số năm phục vụ 1942 Mạnh45 Xếp hạng Trung úy Trận chiến / chiến tranh Trận chiến Tarawa ] Huy chương Sao đồng Edward Albert Heimberger (22 tháng 4 năm 1906 - 26 tháng 5 năm 2005), được biết đến một cách chuyên nghiệp là Eddie Albert là một diễn viên và nhà hoạt động người Mỹ. Ông đã được đề cử giải Oscar cho Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất năm 1954 cho vai diễn trong Roman Holiday và năm 1973 cho The Heartbreak Kid . [1] Các vai diễn nổi tiếng...

Litz, Oise – Wikipedia tiếng Việt

Litz Litz Hành chính Quốc gia Pháp Vùng Hauts-de-France Tỉnh Oise Quận Quận Clermont Tổng Tổng Clermont Xã (thị) trưởng Jean-Jacques Degouy (2008–2014) Thống kê Độ cao 66–109 m (217–358 ft) (bình quân 74 m/243 ft) Diện tích đất 1 9,76 km 2 (3,77 sq mi) Nhân khẩu 2 325   (1999)  - Mật độ 33 /km 2 (85 /sq mi) INSEE/Mã bưu chính 60366/ 60510 1 Dữ liệu địa chính Pháp loại trừ các hồ và ao lớn hơn 1 km² (0.386 dặm vuông hoặc 247 acre) cũng như các cửa sông. 2 Dân số không tính hai lần : cư dân của nhiều xã (ví dụ, các sinh viên và quân nhân) chỉ tính một lần.