Skip to main content

Fujiko Fujio – Wikipedia tiếng Việt



Fujiko Fujio (藤子 不二雄, ふじこ ふじお) (Đằng Tử Bất Nhị Hùng) IPA: /ɸɯdʒiko ɸɯdʒio/ là bút danh chung của hai nghệ sĩ manga Nhật Bản.

Năm 1987, họ chia tay để theo đuổi con đường sáng tác riêng lẻ và trở thành "Fujiko F. Fujio" và "Fujiko Fujio (A)".





Fujiko F. Fujio (藤子・F・不二雄, ふじこ・エフ・ふじお, Fujiko Efu Fujio) (Đằng Bản Hoằng) sinh ngày 1 tháng 12 năm 1933 - mất ngày 23 tháng 9 năm 1996.

Tên thật của ông là Fujimoto Hiroshi (藤本 弘, ふじもと ひろし). [1]

Fujiko Fujio (A) (藤子不二雄Ⓐ, ふじこ・ふじお・エー(エイ), Fujiko Fujio Ēi) (An Tôn Tử Tố Hùng) sinh ngày 10 tháng 3 năm 1934.

Tên thật của ông là Abiko Motoo (安孫子 素雄, あびこ もとお).

Năm 1986, Fujio phát hiện mình bị ung thư gan và mắc phải bệnh tim. Năm 1996, ông qua đời.



Doraemon với chữ ký của tác giả Fujiko F. Fujio.

Trong số các tác phẩm của cả hai, tác phẩm được biết đến rộng rãi nhất là Doraemon. Ban đầu, khi bắt đầu sáng tác truyện tranh, cả hai ông đều vẽ cùng nhau dưới bút danh Ashizuka Fujio. Truyện tranh sáng tác của hai ông rất thành công, và đến năm 1960 giành được giải thưởng Shogakukan cho 2 manga Susume Robot và Tebukuro Tecchan. Tác phẩm đem lại thành công vang dội nhất cho cả hai ông chính là chú mèo máy Doraemon - một sản phẩm tưởng tượng của thế kỷ 22, tuy nhiên trên thực tế manga này không hề gây được tiếng tăm gì suốt 3 năm trời cho đến khi anime của nó được phát trên truyền hình. Đến năm 1988, hai ông ngừng hợp tác với nhau, do manga của Abiko chủ yếu dành cho lứa tuổi thanh niên, còn Fujimoto lại muốn hướng tới đối tượng là trẻ em.

Fujimoto mắc bệnh khi bước sang tuổi 60, ông qua đời vào năm 1996, thọ 63 tuổi, và ông qua đời do mắc phải bệnh suy gan. Ông đã lập ra nhiều quỹ Doraemon trên khắp thế giới - tại Việt Nam, Quỹ học bổng Doraemon cũng được thành lập dưới sự ủy quyền của ông và nhà xuất bản Kim Đồng làm đại diện. Có thể nói Doraemon là tác phẩm thành công nhất của ông, tác phẩm kinh điển trở thành một trong những biểu tượng văn hóa hàng đầu của Nhật Bản.



Năm 1944, lúc cả hai còn là học sinh tiểu học, cả hai đều học khác trường. Sau đó, Abiko chuyển sang trường học của Fujimoto và họ được tìm thấy cả hai đều có sở thích là vẽ. Sau khi nhập trường trung học cơ sở, họ vẫn là bạn bè mặc dù họ đã đi đến trường học khác nhau. Trong khi họ là học sinh trường trung học cơ sở (1946 - 1948), họ đã đọc truyện tranh của Osamu Tezuka. Khi họ đã trở thành học sinh trường trung học, họ bắt đầu vẽ manga cho một nhà xuất bản. Cả hai đã cho ra tác phẩm đầu tay dưới cùng bút danh là Tenshi Tama-chan.

Sau đó, Fujimoto vào làm ở một công ty bánh kẹo, và Abiko thì làm việc cho tòa soạn báo địa phương Toyama Newspaper Company của nhà xuất bản. Tuy nhiên, Fujimoto nhanh chóng phải nghỉ việc vì chấn thương do tay bị kẹt bởi máy móc. Còn Abiko thì làm quản lý, phù hợp với việc vẽ manga. Trong khi Abiko đã được làm việc cho công ty, Fujimoto tiếp tục công việc của mình là vẽ manga. Tại thời điểm này, tên của họ đã được viết dưới bút danh Ashizuka Fujio. Năm 1953 họ xuất bản tác phẩm đầu tay The Last World War. Những năm tiếp theo (1954), họ đã quyết định đi đến Tokyo để trở thành họa sĩ chuyên nghiệp vẽ manga. Tại Tokyo, thời kì khó khăn của họ bắt đầu. Họ liên kết cùng các họa sĩ manga khác để tiếp tục công việc vẽ manga. Một thời gian, Fujimoto và Abiko chuyển về căn hộ của Tokiwa-so nơi Hiroo sinh sống.

Họ tiếp tục vẽ manga dù gặp khó khăn rất nhiều. Nhiều nhà xuất bản đã đặt đơn hàng từ họ. Họ đã trở thành một mangaka nổi tiếng. Tuy nhiên, họ bị mất việc làm trong thời gian từ 1955 đến 1956, vì năm 1955 họ trở về nhà ở Toyama để nghỉ ngơi, thế là họ bị mất trong thời hạn gần tất cả các manga. Sau đó, họ chỉ phục hồi khi các nhà xuất bản thật sự tin cậy. Trong 1959, họ tiếp tục ở Tokiwa sau đó chuyển đến Kawasaki, Kanagawa. Fujimoto đã lập gia đình năm 1962 (ở tuổi 28). Những năm sau, Fujiko Fujio nhận được giải thưởng Shogakukan Manga dành cho các manga Susume Robot và Tebukuro Tecchan.

FujimotoAbiko thành lập Studio Zero với Shin'ichi Suzuki, Shotaro Ishinomori, Jiro Tsunoda, và Kiyoichi Tsunoda. Sau đó Fujio Akatsuka tham gia, và tới khi đỉnh điểm, xưởng sản xuất có đến gần 80 người. Họ sản xuất nhiều phim hoạt hình, ví dụ, Astro Boy. Fujiko Fujio tiếp tục viết manga, ví dụ Ninja Hattori-kun, Kaibutsu-kun. Sau đó, Abiko đã kết hôn năm 1966 ở tuổi 32.

Fujimoto bắt đầu viết Doraemon vào cuối năm 1969, và cùng một lúc ông bắt đầu viết hoàn chỉnh manga dành cho thanh thiếu niên. Doraemon lần đầu tiên đã không thu hút sự chú ý của trẻ em. Mãi 3 năm sau, Doraemon gây sự chú ý bởi loạt phim hoạt hình. Tuy nhiên, đáng tiếc Doraemon không còn sự hợp tác của hai họa sĩ nữa, mà chỉ còn một họa sĩ theo đến tập cuối cùng. Doraemon giờ đây thực sự nổi tiếng khắp thế giới không chỉ truyện tranh mà còn hoạt hình.


Các tác phẩm của Fujiko Fujio[sửa | sửa mã nguồn]


  • Obake no Q-tarō‎ [2] (オバケのQ太郎 Obake no Qtarō), 1964-1969, 1971-1974

  • Utopia: Saigo no Sekai Taisen (ユートピア:西郷の世界), 1953-?

Các tác phẩm chính của Fujiko F. Fujio[sửa | sửa mã nguồn]


  • Perman - Cậu bé siêu nhân (パーマン, Pāman), [3], 1983

  • 21-emon (Hiệp sĩ thế kỉ 21) (21エモン), 1991

  • Mojacko (Những hành tinh lạ) (モジャ公), [4], 1995

  • Ume-boshi Denka (ウメ星デンカ), [5], 1994

  • Doraemon (ドラえもん, Doraemon), [6], 1970

  • Kiteretsu Daihyakka (Cuốn từ điển kì bí) (キテレツ大百科), [7], 1988

  • Siêu nhân Mami (エスパー魔美, Esper Mami), [8], 1987

  • Time-Patrol Bon (Phi thuyền thời gian) 1978-1986

  • Chú mèo Poko (ポコニャン) 1978

  • Chimpui (Chuột Chinba) (チンプイ), [9], 1989

  • Hitoribochino Uchusensou (Chiến tranh vũ trụ)

  • Bakeru-kun (Nhóc bakeru)

Các tác phẩm chính của Fujiko Fujio (A)[sửa | sửa mã nguồn]


  • Ninja Hattori-kun (忍者ハットリくん Ninja Hattori-kun), [10], 1981

  • Kaibutsu-kun (怪物くん), [11], 1980

  • Warau Salesman (笑ゥせぇるすまん), [12], 1968-1971, 1989-1996

  • Manga-michi (まんが道), [13], 1970-1972, 1977-1982, 1986; 1986-1988; 1989-1990, 1995 to the present

  • Mataro ga Kuru!! (魔太郎がくる!!), [14], 1972-1975

  • Parasol Henbē (パラソルへんべえ), [15] 1989-1991

  • Pro Golfer Saru (プロゴルファー猿), [16], 1990

  • Shadow Shōkai Henkiro (シャドウ商会 変奇郎), [17], 1976-1977

  • Shōnen Jidai (少年時代), [18], 1978-1979

  • Wakatono (わかとの?) (1964-1965-1968)

Cho bút danh chung Fujiko Fujio[sửa | sửa mã nguồn]


Riêng tác giả Fujiko F. Fujio[sửa | sửa mã nguồn]


  • 1989 – Giải thưởng đặc biệt.

  • 1989 - Giải thưởng nhà phê bình vàng.

  • 1992 – Phim hoạt hình tiếng Nhật xuất sắc nhất của hiệp hội văn hóa Nhật.

  • Fujiko F. Fujio còn được Bộ văn hóa thông tin Việt Nam trao tặng huy chương "Chiến sĩ văn hóa" vào năm 1996 do đã đóng góp vào công tác giáo dục trẻ em qua truyện Doraemon.[4]

Giải thưởng cho Fujiko Fujio (A)[sửa | sửa mã nguồn]


  • 1990 – Giải thưởng đặc biệt dành cho phim Shōnen Jidai

  • 2005 – Phim hoạt hình Nhật Bản xuất sắc.


Comments

Popular posts from this blog

Mame Biram Diouf – Wikipedia tiếng Việt

Mame Biram Diouf Thông tin cá nhân Tên đầy đủ Mame Biram Diouf [1] Ngày sinh 16 tháng 12, 1987 (30 tuổi) Nơi sinh Dakar, Sénégal Chiều cao 1,85 m (6 ft 1 in) [2] Vị trí Tiền đạo Thông tin về CLB CLB hiện nay Stoke City Số áo 18 CLB chuyên nghiệp* Năm Đội ST † (BT) † 2006–2007 Diaraf 2007–2009 Molde 62 (29) 2009–2012 MU 5 (1) 2009 → Molde (cho mượn) 12 (4) 2010–2011 → BR (cho mượn) 26 (3) 2012–2014 Hannover 96 57 (26) 2014– Stoke City 122 (23) Đội tuyển quốc gia ‡ 2009– Sénégal 51 (10) Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và cập nhật vào 13 tháng 5 năm 2018. † Số trận khoác áo (số bàn thắng). ‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật vào 24 tháng 6 năm 2018 Mame Biram Diouf sinh ngày 16/12/1987 tại Thủ đô Dakar của Senegal. Mame Biram Diouf khởi nghiệp trong màu áo Diaraf của Sénégal trong tháng 1 năm 2007. Tiền đạo trẻ này thi đấu cho đội bóng quê nhà 3 năm, sau đó gia nhập CLB Molde của Na Uy vào năm 2007 [3] . Tháng 8 năm 2008 anh có liên hệ với Br...

Eddie Albert - Wikipedia

Eddie Albert Albert năm 1975 Sinh Edward Albert Heimberger ( 1906-04-22 ) 22 tháng 4 năm 1906 Chết 26 tháng 5 năm 2005 (2005-05-26) (ở tuổi 99) Nơi an nghỉ Nghĩa trang Công viên Tưởng niệm Làng Westwood, Los Angeles, California Alma mater Đại học Minnesota Nghề nghiệp Diễn viên, ca sĩ, nhà nhân đạo, nhà hoạt động Năm hoạt động 1933 .1997 Minnesota Vợ / chồng Margo (m. [1945;cáichếtcủacôấy1985) Trẻ em Albert, Maria Albert Zucht Sự nghiệp quân sự Allegiance Hoa Kỳ Dịch vụ / chi nhánh Hoa Kỳ y Số năm phục vụ 1942 Mạnh45 Xếp hạng Trung úy Trận chiến / chiến tranh Trận chiến Tarawa ] Huy chương Sao đồng Edward Albert Heimberger (22 tháng 4 năm 1906 - 26 tháng 5 năm 2005), được biết đến một cách chuyên nghiệp là Eddie Albert là một diễn viên và nhà hoạt động người Mỹ. Ông đã được đề cử giải Oscar cho Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất năm 1954 cho vai diễn trong Roman Holiday và năm 1973 cho The Heartbreak Kid . [1] Các vai diễn nổi tiếng...

Litz, Oise – Wikipedia tiếng Việt

Litz Litz Hành chính Quốc gia Pháp Vùng Hauts-de-France Tỉnh Oise Quận Quận Clermont Tổng Tổng Clermont Xã (thị) trưởng Jean-Jacques Degouy (2008–2014) Thống kê Độ cao 66–109 m (217–358 ft) (bình quân 74 m/243 ft) Diện tích đất 1 9,76 km 2 (3,77 sq mi) Nhân khẩu 2 325   (1999)  - Mật độ 33 /km 2 (85 /sq mi) INSEE/Mã bưu chính 60366/ 60510 1 Dữ liệu địa chính Pháp loại trừ các hồ và ao lớn hơn 1 km² (0.386 dặm vuông hoặc 247 acre) cũng như các cửa sông. 2 Dân số không tính hai lần : cư dân của nhiều xã (ví dụ, các sinh viên và quân nhân) chỉ tính một lần.