Skip to main content

Giáo hoàng Libêrô – Wikipedia tiếng Việt


Thánh Liberius

Tựu nhiệm
17 tháng 5 3521
Bãi nhiệm
24 tháng 12 366
Tiền nhiệm
Julius I
Kế nhiệm
Damasus I
Thông tin cá nhân
Tên khai sinh
Liberius
Sinh
???
???
Mất
(366-09-24)24 tháng 9, 366
???

Liberius (Tiếng Việt: Libêrô; Tiếng Anh: Liberius) là người kế nhiệm Giáo hoàng Julius I và là vị Giáo hoàng thứ 36 của Giáo hội Công giáo. Theo niên giám tòa thánh năm 1861 thì ông lên ngôi vào năm 352 và ở ngôi Giáo hoàng trong 14 năm, 4 tháng và 2 ngày[1]. Niên giám tòa thánh năm 2003 xác định triều đại của ông kéo dài từ ngày 17 tháng 5 năm 352 cho tới ngày 24 tháng 9 năm 366.

Những cuộc tranh luận chống lạc giáo Arius tái diễn khiến nảy sinh việc bầu chọn Giáo hoàng giả Felix II. Felix II là người Rô-ma, ông đã tự lập làm Giáo hoàng trong thời gian giáo Liberius bị lưu đày từ năm 355 cho tới ngày 22 tháng 11 năm 365). Giáo hoàng Liberius được cho rằng là người đã đặt móng xây đền thờ Đức Bà Cả, để ghi dấu địa điểm sau trận tuyết rơi ngày 15-8. Sau công đồng Sirmium, ông được đưa trở lại Rôma. Năm 358, ông đã nâng đỡ phản ứng của phái giống bản tính (Homéousiens) chống lại những người theo phái dị đồng (Anoméens) và khi trở về Tây phương ông đã góp phần vào việc đẩy lùi dứt khoát phái Ariô.





Năm sinh và nơi sinh của ông rất khó xác định. Tuy nhiên truyền thống cho rằng ông sinh tại Roma, thuộc gia đình Savelli. Truyền thống cho rằng ông là người đầu tiên chỉ định Rôma là tông tòa. Truyền thống cho rằng chính Liberius là người đã ấn định ngày sinh của Đức Giêsu vào ngày 25 tháng 12.

Một truyền thuyết cho rằng Maria đã hiện ra với ông trong giấc mộng vào đêm 4 và 5 tháng 8, bảo ông xây dựng một nhà nguyện. Ngay đêm đó, theo lịch sử Giáo hội, đã có một trận tuyết rơi lạ lùng trên bảy ngọn đồi của Rôma. Hai năm sau, ông đã hoàn thành việc xây cất Vương cung thánh đường Đức Bà Cả. Đức Liberius xây dựng Vương cung thánh đường Santa Maria Maggiore.



Vào thời cai trị của ông những xung đột với bè phái Arius ngày càng căng thẳng. Năm 351, Constantinus triệu tập một công đồng tại Sirmium. Tại đây, một bản tuyên xưng đức tin được thông qua: "Chúng tôi tin một Thiên Chúa duy nhất là cha toàn năng và con một ngài, Chúa Giêsu Ky-tô, sinh bởi Chúa Cha từ trước muôn đời, Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, Ánh sáng bởi Ánh sáng, bởi Người mà mọi vật được tạo thành.... Ngôi Lời và Khôn ngoan, Ánh sáng và Sinh lực". Giáo hoàng Liberius và thánh Athanasiô không nhìn nhận bản tuyên xưng có những danh từ không chính xác đó.

Ông kiên quyết tranh luận với Hoàng Đế Constantius về dị giáo. Vào năm 352, Constantinus tổ chức một công đồng ở Arles, dùng võ lực bắt ông và các Giám mục Công giáo kết án Athanasiô. Để phản đối, Giáo hoàng Liberius hội công đồng Milan. Cũng như ở Arles, Constantinus can thiệp bằng sức mạnh. Những Giám mục chống lại đều bị lưu đày, trong đó có Lucifer thành Cagliari, Eusebius thành Vercellis, Dionisius thành Milan, Osio thành Cordoba, Hilariô thành Poitiers. Giáo hoàng Liberius bị lưu đày đi Bêrea, xứ Thracia. Truyền thống khác cho rằng ngài bị Constantius lưu đày sang France, dân chúng Rôma xin ông trở về.

Bè Arius bắt đầu chia làm ba khuynh hướng: Phe thứ nhất dùng danh từ "anomoios", dạy rằng Chúa Con khác chúa Cha về bản tính. Phe thứ hai chủ trương Chúa Con giống Chúa Cha về bản tính nhưng không muốn dùng danh từ "homoousios" (đồng bản tính). Phe thứ ba dùng danh từ "homoios" (giống nhau) muốn làm trung gian giữa hai phe trên. Năm 358, phe "homoiousios" đã tổ chức công đồng Sirmium III: tuyên bố Chúa Con giống Chúa Cha về bản tính, và thuyết phục được Constantinus đồng thời bắt tay với Giáo hoàng Liberius. Giáo hoàng Liberius lúc đó đang sống lưu đày ở Bêria, được đưa tới Sirmium. Bị lôi cuốn, ông bằng lòng kết án những ai muốn lợi dụng danh từ homoousius để đưa lạc thuyết Sabellius trở lại và những người chủ trương Ngôi Con khác Ngôi Cha về bản tính.

Giáo hoàng Liberius đã rơi vào mưu kế của "homoiousios". Tuy nhiên, làm như vậy Đức Liberius không đi trái đạo lý Công giáo (xem Sozomène: Hist. Eccl.IV, 15,4-6). Công thức mà Liberius đã ký vào là công thức của cộng đồng Sirmium 351, trong đó ngài có ghi rằng mình cương quyết bác bỏ giáo thuyết không nhìn nhận Ngôi Con "giống Ngôi Cha trong bản tính và trong mọi sự". Có thể Liberius không hiểu thấu tiếng Hy-lạp, và ngài đã không dạy ex cathedra cho cả giáo hội. Công thức của Sirmium 351 và Sirmium 358 không hề bị hai thánh Hilariô và Athanasiô chính thức bác bỏ. Chỉ có công thức của Sirmium 357 là không thể chấp nhận và được coi là lạc thuyết.





  • Pope Liberius, Wikipedia Tiếng Anh [1]

  • 265 Đức Giáo hoàng, Thiên Hựu Nguyễn Thành Thống, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, xuất bản tháng 5 năm 2009.

  • Thánh Liberius, Các vị Giáo hoàng của giáo hội toàn cầu, hội đồng Giám mục Việt Nam [2]

  • Tóm lược tiểu sử các Đức Giáo hoàng, Đà Nẵng 2003,Jos. TVT chuyển ngữ từ Tiếng Anh.


Comments

Popular posts from this blog

Mame Biram Diouf – Wikipedia tiếng Việt

Mame Biram Diouf Thông tin cá nhân Tên đầy đủ Mame Biram Diouf [1] Ngày sinh 16 tháng 12, 1987 (30 tuổi) Nơi sinh Dakar, Sénégal Chiều cao 1,85 m (6 ft 1 in) [2] Vị trí Tiền đạo Thông tin về CLB CLB hiện nay Stoke City Số áo 18 CLB chuyên nghiệp* Năm Đội ST † (BT) † 2006–2007 Diaraf 2007–2009 Molde 62 (29) 2009–2012 MU 5 (1) 2009 → Molde (cho mượn) 12 (4) 2010–2011 → BR (cho mượn) 26 (3) 2012–2014 Hannover 96 57 (26) 2014– Stoke City 122 (23) Đội tuyển quốc gia ‡ 2009– Sénégal 51 (10) Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và cập nhật vào 13 tháng 5 năm 2018. † Số trận khoác áo (số bàn thắng). ‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật vào 24 tháng 6 năm 2018 Mame Biram Diouf sinh ngày 16/12/1987 tại Thủ đô Dakar của Senegal. Mame Biram Diouf khởi nghiệp trong màu áo Diaraf của Sénégal trong tháng 1 năm 2007. Tiền đạo trẻ này thi đấu cho đội bóng quê nhà 3 năm, sau đó gia nhập CLB Molde của Na Uy vào năm 2007 [3] . Tháng 8 năm 2008 anh có liên hệ với Br...

Eddie Albert - Wikipedia

Eddie Albert Albert năm 1975 Sinh Edward Albert Heimberger ( 1906-04-22 ) 22 tháng 4 năm 1906 Chết 26 tháng 5 năm 2005 (2005-05-26) (ở tuổi 99) Nơi an nghỉ Nghĩa trang Công viên Tưởng niệm Làng Westwood, Los Angeles, California Alma mater Đại học Minnesota Nghề nghiệp Diễn viên, ca sĩ, nhà nhân đạo, nhà hoạt động Năm hoạt động 1933 .1997 Minnesota Vợ / chồng Margo (m. [1945;cáichếtcủacôấy1985) Trẻ em Albert, Maria Albert Zucht Sự nghiệp quân sự Allegiance Hoa Kỳ Dịch vụ / chi nhánh Hoa Kỳ y Số năm phục vụ 1942 Mạnh45 Xếp hạng Trung úy Trận chiến / chiến tranh Trận chiến Tarawa ] Huy chương Sao đồng Edward Albert Heimberger (22 tháng 4 năm 1906 - 26 tháng 5 năm 2005), được biết đến một cách chuyên nghiệp là Eddie Albert là một diễn viên và nhà hoạt động người Mỹ. Ông đã được đề cử giải Oscar cho Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất năm 1954 cho vai diễn trong Roman Holiday và năm 1973 cho The Heartbreak Kid . [1] Các vai diễn nổi tiếng...

Litz, Oise – Wikipedia tiếng Việt

Litz Litz Hành chính Quốc gia Pháp Vùng Hauts-de-France Tỉnh Oise Quận Quận Clermont Tổng Tổng Clermont Xã (thị) trưởng Jean-Jacques Degouy (2008–2014) Thống kê Độ cao 66–109 m (217–358 ft) (bình quân 74 m/243 ft) Diện tích đất 1 9,76 km 2 (3,77 sq mi) Nhân khẩu 2 325   (1999)  - Mật độ 33 /km 2 (85 /sq mi) INSEE/Mã bưu chính 60366/ 60510 1 Dữ liệu địa chính Pháp loại trừ các hồ và ao lớn hơn 1 km² (0.386 dặm vuông hoặc 247 acre) cũng như các cửa sông. 2 Dân số không tính hai lần : cư dân của nhiều xã (ví dụ, các sinh viên và quân nhân) chỉ tính một lần.