Skip to main content

Mohammad Reza Pahlavi – Wikipedia tiếng Việt


Mohammad Rezā Shāh Pahlavi, Shah của Iran (26 tháng 10 năm 1919 tại Tehran - 27 tháng 7 năm 1980 tại Cairo), lấy danh hiệu Shah-an-shah (Vua của các vua), hay Arya-mehr (Mặt trời của người Aryan) là vua Iran từ 16 tháng 9 năm 1941 cho đến khi bị lật đổ trong cuộc Cách mạng Hồi giáo vào 11 tháng 2 năm 1979. Ông là con trai của vua Mohammad Reza Shah - vị Hoàng đế đổi tên nước Ba Tư thành Iran vào năm 1935.[1] Ông là vị Hoàng đế thứ hai và cuối cùng của Triều đại Pahlavi. Mohammad Reza Pahlavi thường được biết đến như một Hoàng đế độc tài.

Vào tháng 10 năm 1971, đất nước Iran tiến hành lễ kỷ niệm 2500 năm Hoàng đế Cyrus Đại Đế, và người ta không rõ đây là ngày sinh, ngày lên ngôi hay là ngày mất của vị vua sáng lập Đế quốc Ba Tư. Để thể hiện cho cả thế giới thấy thấy rằng đất nước ông là một cường quốc hiện đại, Hoàng đế Mohammad Reza Pahlavi tổ chức lễ hội thật hoành tráng. Ông mời nhiều nguyên thủ quốc gia khác đến Iran dự lễ, và một số vị không đi được. Lễ hội được tổ chức trong nhiều ngày, đỉnh điểm là vào ngày 16 tháng 10 năm đó, và nhà vua đến lăng mộ của Cyrus Đại đế tại cố đô Pasargadae, ca ngợi, vinh danh vị Hoàng đế Ba Tư xưa. Ông gọi Hoàng đế Cyrus Đại Đế là vị "anh hùng muôn thuở của lịch sử Iran", đồng thời nước Iran có "nền quân chủ lâu đời nhất trên thế giới".[2] Nhưng tám năm sau, ông bị lật đổ và bị lưu đày.[3]

Vào thế kỷ XX, nước Iran - mà người ta thường gọi là Ba Tư trong suốt chiều dài lịch sử - đất nước của Hoàng đế Cyrus Đại Đế và những chiến binh Ba Tư năm xưa, đã đổi thay. Quốc giáo Iran giờ đây là Hồi giáo, và tín đồ Hỏa giáo ngày càng ít.[3] Tuy lúc đầu còn thiếu kinh nghiệm, Hoàng đế Mohammad Reza Pahlavi về sau được xem là một trong những ông vua độc đoán nhất của thế kỷ XX. Ông dùng vốn tiền mà ông nhận được từ ngành công nghiệp hóa dầu Iran mà cải cách quân sự, và được xem là một trong những nhà lãnh đạo đáng sợ nhất ở vùng Trung Đông. Nhà vua không tham chiến trong cuộc Chiến tranh Ả Rập-Israel, có lẽ vì quan hệ ngoại giao tốt đẹp của ông đối với nước Mỹ - một đồng minh thân cận của Israel.[1] Ông đề xướng cải cách đất nước, tuy không hề khác với truyền thống Ba Tư dưới thời các vua Cyrus Đại Đế, Darius I và Xerxes I năm xưa, nhưng ông không thận trọng nghĩ rằng, những cải cách này gây cho những người tuyệt đối tin vào Hồi giáo phẫn nộ.[4]

Và, việc ông tôn vinh Hoàng đế Cyrus Đại Đế đã gây cho những người này tức giận, vì họ chỉ đề cao nhà tiên tri Muhammad. Với sự chia rẽ trong lịch sử và truyền thống của đất nước, nhà vua không giữ được ngai vàng. Đầu năm 1978, công cuộc Cách mạng Hồi giáo bùng nổ, với những cuộc biểu tình quy mô lớn của học sinh ở thủ đô Tehran. Pahlavi xuất quân, nhưng ông không muốn đất nước chìm trong biển máu, đồng thời binh sĩ cũng không chĩa súng vào nhân dân. Pahlavi bị lật đổ và lưu đày. Sau này, ông qua đời tại thủ đô Cairo, Ai Cập.[5]




  1. ^ a ă Samuel Willard Crompton, Cyrus the Great, trang 96

  2. ^ Samuel Willard Crompton, Cyrus the Great, trang 93

  3. ^ a ă Samuel Willard Crompton, Cyrus the Great, trang 94

  4. ^ Samuel Willard Crompton, Cyrus the Great, trang 97

  5. ^ Samuel Willard Crompton, Cyrus the Great, trang 98



Comments

Popular posts from this blog

Mame Biram Diouf – Wikipedia tiếng Việt

Mame Biram Diouf Thông tin cá nhân Tên đầy đủ Mame Biram Diouf [1] Ngày sinh 16 tháng 12, 1987 (30 tuổi) Nơi sinh Dakar, Sénégal Chiều cao 1,85 m (6 ft 1 in) [2] Vị trí Tiền đạo Thông tin về CLB CLB hiện nay Stoke City Số áo 18 CLB chuyên nghiệp* Năm Đội ST † (BT) † 2006–2007 Diaraf 2007–2009 Molde 62 (29) 2009–2012 MU 5 (1) 2009 → Molde (cho mượn) 12 (4) 2010–2011 → BR (cho mượn) 26 (3) 2012–2014 Hannover 96 57 (26) 2014– Stoke City 122 (23) Đội tuyển quốc gia ‡ 2009– Sénégal 51 (10) Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và cập nhật vào 13 tháng 5 năm 2018. † Số trận khoác áo (số bàn thắng). ‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật vào 24 tháng 6 năm 2018 Mame Biram Diouf sinh ngày 16/12/1987 tại Thủ đô Dakar của Senegal. Mame Biram Diouf khởi nghiệp trong màu áo Diaraf của Sénégal trong tháng 1 năm 2007. Tiền đạo trẻ này thi đấu cho đội bóng quê nhà 3 năm, sau đó gia nhập CLB Molde của Na Uy vào năm 2007 [3] . Tháng 8 năm 2008 anh có liên hệ với Br...

Eddie Albert - Wikipedia

Eddie Albert Albert năm 1975 Sinh Edward Albert Heimberger ( 1906-04-22 ) 22 tháng 4 năm 1906 Chết 26 tháng 5 năm 2005 (2005-05-26) (ở tuổi 99) Nơi an nghỉ Nghĩa trang Công viên Tưởng niệm Làng Westwood, Los Angeles, California Alma mater Đại học Minnesota Nghề nghiệp Diễn viên, ca sĩ, nhà nhân đạo, nhà hoạt động Năm hoạt động 1933 .1997 Minnesota Vợ / chồng Margo (m. [1945;cáichếtcủacôấy1985) Trẻ em Albert, Maria Albert Zucht Sự nghiệp quân sự Allegiance Hoa Kỳ Dịch vụ / chi nhánh Hoa Kỳ y Số năm phục vụ 1942 Mạnh45 Xếp hạng Trung úy Trận chiến / chiến tranh Trận chiến Tarawa ] Huy chương Sao đồng Edward Albert Heimberger (22 tháng 4 năm 1906 - 26 tháng 5 năm 2005), được biết đến một cách chuyên nghiệp là Eddie Albert là một diễn viên và nhà hoạt động người Mỹ. Ông đã được đề cử giải Oscar cho Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất năm 1954 cho vai diễn trong Roman Holiday và năm 1973 cho The Heartbreak Kid . [1] Các vai diễn nổi tiếng...

Litz, Oise – Wikipedia tiếng Việt

Litz Litz Hành chính Quốc gia Pháp Vùng Hauts-de-France Tỉnh Oise Quận Quận Clermont Tổng Tổng Clermont Xã (thị) trưởng Jean-Jacques Degouy (2008–2014) Thống kê Độ cao 66–109 m (217–358 ft) (bình quân 74 m/243 ft) Diện tích đất 1 9,76 km 2 (3,77 sq mi) Nhân khẩu 2 325   (1999)  - Mật độ 33 /km 2 (85 /sq mi) INSEE/Mã bưu chính 60366/ 60510 1 Dữ liệu địa chính Pháp loại trừ các hồ và ao lớn hơn 1 km² (0.386 dặm vuông hoặc 247 acre) cũng như các cửa sông. 2 Dân số không tính hai lần : cư dân của nhiều xã (ví dụ, các sinh viên và quân nhân) chỉ tính một lần.